Làn sóng Covid thứ 4 hoành hành khắp các tỉnh phía nam và các địa phương khác trên cả nước ta. Thủ đô Hà Nội thực hiện giãn cách xã hội 14 ngày kể từ ngày 23/07/2012 theo chỉ thị 16 của Thủ tướng chính phủ. Như bao người khác, tôi phải ở trong nhà và chỉ ra ngoài khi có các công việc cần thiết theo chỉ thị nói trên. Có thể nói mọi hoạt động đều bị ngưng trệ gây ra khó khăn cho mỗi gia đình và toàn xã hội. Tuy nhiên, ở một góc độ nào đó, chúng ta lại có điều kiện xa rời nhịp sống gấp gáp hàng ngày và tận hưởng thời gian sống bên người thân và làm một số thứ theo sở thích của mỗi người.
Có thời gian rảnh rỗi, tôi vùi mình vào những sở thích từ thủa còn là học sinh, đó là đọc sách và nghe nhạc.
Nói về âm nhạc thì tôi không thích nghe dòng nhạc vàng (có lẽ do trước đây bị ảnh hưởng bởi các thế hệ trước). Mặc dù vậy, nhớ lại thời học sinh cấp 3, thời mà mượn được của ông bạn Tú Cọc con Walkman thì những băng Chế Linh với Tuấn Vũ cũng là quá đỉnh (vì thời ấy tôi làm gì có đài mà nghe nhạc). Sau này khi có điều kiện hơn tôi vẫn thích nghe dòng nhạc cách mạng, các bài hát về quê hương, đất nước, các bản guitar đỉnh cao vv… chứ ít khi nghe nhạc vàng.
Một hôm, đang lang thang trên youtobe, tôi tình cờ bấm vào bài “Hận Đồ Bàn” của nhạc sỹ Xuân Tiên. Thực ra bài này tôi có nghe qua vài lần nhưng không hề có ấn tượng vì giai điệu nó tương tự như các bản nhạc vàng khác: buồn bã, ủy mị,… Chắc cũng dạng thất tình hay hận đàn bà hay gì đó… Tuy nhiên, lần này tôi để ý hơn đến phần ca từ và cảm nhận rõ được sự buồn bã thê lương, sự tiếc nuối về một thời oanh liệt nào đó.
Tôi đọc kỹ lại lời bài hát và thấy phần lời quả là rất hay.
Hận Đồ Bàn – Xuân Tiên
Rừng hoang vu vùi lấp bao nhiêu uất căm hận thù
Ngàn gió ru muôn tiếng vang trong tối tăm mịt mù
Vạc kêu sương buồn nhắc đây bao lúc xưa quật cường
Đàn đóm vương như bóng ai trong lúc đêm trường về
Rừng trầm cô tịch, đèo cao thác sâu
Đồi hoang suối reo hoang vắng cheo leo
Ngàn muôn tiếng âm tháng năm buồn ngân
Âm thầm hoà bài hận vong quốc ca
Người xưa đâu, mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu
Lầu các đâu, nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu
Đồ Bàn miền Trung đường về đây
Máu như loang thắm chưa phai dấu
Xương trắng sâu vùi khí hờn căm khó tan
Kìa ngoài trùng dương đoàn thuyền ai
Nhấp nhô trên sóng xa xa tắp
Mơ bóng Chiêm thuyền Chế Bồng Nga vượt khơi.
Về kinh đô ngàn thớt voi uy hiếp quân giặc thù
Triền sóng xô muôn lớp quân Chiêm tiến như tràn bờ
Tiệc liên hoan nhạc tấu vang trên xứ thiêng Đồ Bàn
Dạ yến ban cung nữ dâng lên khúc ca về Chàm
Một thời oanh liệt người dân nước Chiêm
Lừng ghi chiến công vang khắp non sông
Mộng kia dẫu tan cuốn theo thời gian
Nhưng hồn ngàn đời còn theo nước non
Người xưa đâu, mồ đắp cao hay đã sâu thành hào
Lầu các đâu, nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu
Người xưa đâu?
Người xưa đâu?
Người xưa đâu?
Nhạc sĩ Xuân Tiên chia sẻ rằng thời trẻ ông đã nghiên cứu về âm điệu của các miền đất nước, trong đó có vùng Quy Nhơn, Bình Định. Sau này khi đã vào Sài Gòn, làm trong đài phát thanh, ông muốn sáng tác một ca khúc với chủ đề khác với chủ đề tình yêu đôi lứa của các nhạc sĩ khác nên mới tìm hiểu lại lịch sử của vùng đất Bình Định, về dân tộc Chăm và lịch sử Chăm pa mấy trăm năm trước đó để sáng tác thành ca khúc Hận Đồ Bàn, nói thay lời của người dân nước Cham bị vong quốc.
Thì ra “Hận Đồ Bàn” không phải như một bản nhạc vàng thông thường mà ẩn chứa đằng sau là cả một giai thoại lịch sử bi hùng. Vậy Đồ Bàn là gì mà lại hận? Chế Bồng Nga là ai? Sao lại “máu loang thắm”, “xương trắng sâu vùi” ? Thời oanh liệt của dân Chiêm như thế nào? vv… Nhưng câu hỏi nối tiếp nhau thôi thúc tôi lần giở lại những trang sử Việt.
Chiêm Thành ( Chăm pa) là tên quốc gia cổ của người Chăm nói tiếng Chăm từng tồn tại độc lập qua các thời kỳ từ năm 192 đến năm 1832. Địa giới của Chiêm Thành lúc mở rộng nhất trải dài từ dãy núi Hoành Sơn, Quảng Bình, ở phía bắc cho đến Bình Thuận ở phía nam, và từ Biển Đông cho đến tận miền núi phía tây của nước Lào ngày nay.
Theo dòng lịch sử, người Chăm thành lập các vương quốc sau:
- Lâm Ấp (192–757)
- Hoàn Vương (757–859)
- Chiêm Thành (875–1471)
- Panduranga (1471–1832)
Những tên gọi như thế trong từng thời kỳ là theo sử sách nước ngoài. Trên thực tế, sách sử thường dùng tên Chiêm Thành để chỉ tên nước trong tất cả các triều đại. Người Chăm gọi lãnh thổ của họ là Chăm pa, lấy tên một loài hoa đẹp và rất được yêu thích của người phương Nam: hoa ngọc lan vàng
Đồ Bàn chính tên Vijaya, còn được gọi Chà Bàn, Trà Bàn, Xà Bàn, là tên kinh đô cuối cùng của Vương quốc Chiêm Thành (Chăm pa) trước khi vương quốc này bị diệt vong. Thành này nằm trên đất các thôn Nam Tân, Bắc Thuận và Bá Canh của Xã Nhơn Hậu, Thị xã An Nhơn, Bình Định, cách Thành phố Quy Nhơn 27 km về hướng tây-bắc.
Thực ra chiến tranh giữa các triều đại phong kiến Việt Nam với Chiêm Thành đã được ghi chép đầy đủ trong các sách sử Việt Nam. Tuy nhiên, dường như mọi người đều quá tập trung vào các cuộc chiến tranh chống giặc phương Bắc nên ít để ý đến. Ở đây tôi xin tóm tắt lại để các bạn theo dõi. Riêng chiến tranh giữa nhà Trần và Chiêm Thành dưới thời Chế Bồng Nga được ghi chép tỷ mỉ hơn.
1. Chiến tranh Tiền Lê – Chiêm Thành
Vào thời Tiền Lê, Lê Đại Hành sau khi đánh tan quân Tống thì thân đem quân đánh nước Chiêm trị tội bắt giam sứ giả và quấy nhiễu bờ cõi. Vua chiếm được kinh đô, giết vua Chiêm, bắt các cung phi, lấy của cải rất nhiều và san phẳng kinh đô Indrapura.
2. Chiến tranh Lý – Chiêm Thành
Năm 1020, thái tử Phật Mã ( Vua Lý Thái Tông), đem quân đánh người Chiêm ở trại Bố Chính rồi thẳng đến Núi Long Ty, chém được tướng Chiêm là Bố Linh tại trận.
Năm 1043 vua Chiêm là Sạ Đẩu dẫn quân đi cướp bóc vùng ven biển của Đại Việt. Khiến vua Lý Thái Tông tức giận.
Ngay năm sau, năm 1044, Vua Lý Thái Tông của Đại Cồ Việt lấy cớ Chiêm Thành không triều cống nhiều năm, nên thân chinh cất quân trừng phạt. Quân Lý giết được Sạ Đẩu, chiếm được thành Đồ Bàn, bắt vợ cả, vợ lẽ của Sạ Đẩu và các cung nữ mang về.
Khi đến sông Châu Giang ( Phủ Lý – Hà Nam), Thái Tông sai nội nhân thị nữ triệu Vương phi Mỵ Ê sang hầu thuyền vua. Mỵ Ê phẫn uất nhảy xuống dòng Châu Giang tự tử.
Năm 1068 Lý Thường Kiệt làm Đại tướng đi tiên phong đi đánh Chiêm bắt được Vua Chế Củ ở biên giới Chân Lạp. Sau đó, Chế Củ xin dâng 3 châu Bố Chính, Ma Linh và Địa Lý để chuộc tội nên được tha về.
3. Chiến tranh Trần – Chiêm Thành
Năm 1252 Trần Thái Tông đi đánh Chiêm Thành bắt được vương phi Bố Gia La.
Năm 1301, sau một thời gian Việt, Chiêm đồng lòng chống quân Nguyên Mông, thượng hoàng Trần Nhân Tông, đến thăm Chiêm Thành và được Vua Chế Mân đón tiếp nồng hậu. Trần Nhân Tông ở Chiêm đến chín tháng trời, vừa ngao du sơn thủy vừa trao đổi Phật pháp. Trước khi về, Thượng hoàng ngỏ ý muốn gả con gái là Huyền Trân Công chúa cho Chế Mân để củng cố bang giao giữa hai nước. Tuy nhiên, nhiều quan lại triều Trần phản đối cho rằng Chiêm thuộc loại man di nên không đồng ý hôn sự.
Năm 1305, khi Chế Mân đề nghị dâng sính lễ là Châu Ô và Châu Lý để cầu hôn thì nhà Trần không thể chối từ .
Năm 1306, một phái đoàn lớn đưa Huyền Trân Công chúa 19 tuổi xuống thuyền đi Thành Đồ Bàn.
Sang năm sau (1307), vua Trần Anh Tông (trị vì 1293–1314) nhận Châu Ô và Châu Lý, đổi tên lại thành Châu Thuận và Châu Hóa (gọi tắt Thuận Hóa) rồi sai Đoàn Nhữ Hài vào kinh lý và đặt quan cai trị.
Làm vợ Chế Mân được 11 tháng, Chế Mân chết, Huyền Trân trở thành góa phụ. Nhà Trần cử người sang Chiêm Thành lừa cướp công chúa về. Người Chiêm hết sức tức giận.
Con trai Chế Mân là Chế Chí – lên ngôi. Chế Chí thấy tiếc vì vua cha đã nhượng hai châu Ô, Lý nên có ý đồ lấy lại. Biết được ý đồ đó, năm 1311 Vua Trần Anh Tông ra tay trước: đem quân đánh Chiêm Thành. Năm sau, Chế Chí bị bắt, và từ lúc đó Chiêm Thành trở thành một châu của Đại Việt. Chế Chí bị giam lỏng sau chết ở Gia Lâm. Đại Việt và Chiêm Thành kết thù oán mãi đến sau này.
Năm 1318, vua Chiêm là Chế Năng mang quân đi chiếm lại hai châu Ô, Lý. Trần Minh Tông lập tức sai quân chống lại. Phạm Ngũ Lão tung quân đánh. Quân Chiêm thua to, Chế Năng bỏ chạy sang Java. Vua Trần đặt một tù trưởng Chiêm là Anan lên ngôi.
Anan cũng ương ngạnh như vua trước, nhiều lần gửi sứ bộ sang nhà Nguyên xin gây áp lực để Đại Việt phải tôn trọng lãnh thổ Chiêm.
Vua Trần Minh Tông tức giận, nên năm 1326 sai quân đi đánh Anan. Lần này quân Việt bại trận, phải rút về.
Thời kỳ sau đó xuất hiện vị vua Chiêm kiệt xuất là Chế Bồng Nga, trị vì 1360–1390.
Do các triều đại trước bị Đại Việt đánh dẹp nên Chế Bồng Nga có ý đánh nhà Trần để rửa hận.Vậy cho nên hết sức tập trận, luyện binh; bắt quân lính phải chịu khó nhọc cho quen, đặc biệt là huấn luyện được đội voi chiến hùng hậu. Khi thắng thì cho voi đi trước để xông đột, khi bại thì cho voi đi sau để ngăn giữ. Nhờ cách xếp đặt có kỷ luật làm quân Chiêm từ đó mạnh lắm, sau sang đánh phá thành Thăng Long mấy lần làm cho vua tôi nhà Trần phải khiếp đảm kinh hồn.
Năm 1367, Trần Dụ Tông (trị vì 1341–1369) sai Trần Thế Hưng và Đỗ Tử Bình đi đánh Chiêm Thành. Quan quân đi đến Chiêm Động (Thăng Bình – Quảng Nam) bị phục binh của quân Chiêm Thành đánh và bắt mất Trần Thế Hưng. Đỗ Tử Bình đem quân chạy về.
Người Chiêm thấy binh thế Đại Việt suy nhược nên có ý khinh thường. Năm 1368 vua Chiêm sai sứ sang đòi đất Hóa Châu.
Năm 1369, vì mải chơi bời nên sức khỏe kém, Vua Trần Dụ Tông mất mà không có con, đến nỗi truyền ngôi cho Dương Nhật Lễ. Anh này là con nuôi của Trần Nguyên Dục – anh vua Trần Dụ Tông. Năm sau, Dương Nhật Lễ bị thân vương và tông thất nhà Trần hạ bệ và lập con thứ ba của Minh Tông lên ngôi. Mẹ của Nhật Lễ chạy xuống Chiêm Thành nhờ vua Chiêm đem quân lên đánh trả thù cho con.
Năm 1371, Chế Bồng Nga tập trung chiến thuyền vào cửa Đại An (Nam Định) rồi tiến thẳng đến Thăng Long. Quan quân đánh không nổi, vua Nghệ Tông phải lánh mình chạy sang Đông Ngạn ( Cổ Pháp – Đình Bảng – Bắc Ninh). Quân Chiêm vào thành đốt sạch cung điện, bắt đàn bà con gái, lấy hết các đồ châu ngọc rồi rút về.
Năm 1372, Trần Nghệ Tông truyền ngôi vua cho em là Trần Kính, còn mình lên làm thượng hoàng. Trần Kính trở thành vua Trần Duệ Tông (trị vì 1372–1377).
Lúc bấy giờ quân Chiêm cứ quấy nhiễu mãi, vua Duệ Tông quyết ý đánh báo thù, bèn hạ chiếu luyện tập quân lính, làm chiến thuyền và tích lũy lương thảo chuẩn bị việc chinh chiến. Vua cho Lê Quý Li làm tham mưu quân sự; đổi đất Hoan Châu thành Nghệ An, Diễn Châu làm Diễn Châu lộ, Lâm Bình thành Lâm Bình Phủ rồi sai quan quân sửa sang đường sá từ Cửu Chân (Thanh Hóa) đến huyện Hà Hoa ( tức Kỳ Anh – Hà Tĩnh).
Năm 1376, Chế Bồng Nga lại mang quân xâm đánh phá ở Hóa Châu, Duệ Tông định thân chinh đi đánh. Đình thần can ngăn không được. Vua sai quân dân tải 5 vạn thạch lương vào Hóa Châu rồi rước thượng hoàn lên duyệt binh ở Bạch Hạc.
Thấy nhà Trần chuẩn bị đánh, Chế Bông Nga đem cống 15 mâm vàng để tạ tội nhưng quan trấn thủ Hóa Châu là Đỗ Tử Bình đem giấu vàng đi rồi dâng sớ nói dối rằng Chế Bồng Nga ngạo mạn vỗ lễ, xin vua cử binh sang đánh. Được tin ấy, Duệ Tông quyết ý sang đánh; sai Lê Quý Li đốc vận lương đến cửa bể Di Luân (Bình Chính – Quảng Bình) và tự lĩnh 12 vạn quân thủy bộ cùng tiến đi đến cửa Nhật Lệ ( Quảng Bình) đóng lại 1 tháng để luyện tập sĩ tốt.
Tháng giêng năm 1377 quân Trần tiến vào cửa Thị Nại ( Quy Nhơn) đánh lấy đồn Thạch Kiều và động Kỳ Mang rồi tiến tới vây đánh kinh thành Đồ Bàn.
Chế Bồng Nga lập đồn giữ ở ngoài thành rồi cho người sang giả hàng nói rằng Chế Bông Nga đã bỏ thành chạy trốn, chỉ còn thành không xin tiến binh ngay. Duệ Tông cho là thật truyền tiến binh vào thành. Đại tướng Đỗ Lễ can mãi vua không nghe. Khi đến gần thành, quân chiêm đổ ra vây đánh. Quan quân thua to, Duệ Tông trúng tên chết tại trận, các tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Lạp Hòa, hành khiển Phạm Huyền Linh cũng tử trận, quân lính mười phần chết đến bảy tám. Bấy giờ Đỗ Tử Bình lĩnh hậu quân cũng không đem quân đến cứu, Lê Quý Li cũng bỏ chạy về. Đây là trận đánh mang đến chiến bại tồi tệ nhất trong lịch sử của người Việt dưới tay Chế Bồng Nga.
Duệ Tông là vị hoàng đế duy nhất trong lịch sử nước Việt chết trong một trận chiến. Sau thất bại tồi tệ ở Đồ Bàn, Đại Việt suy nhược còn nhiều lần bị Chiêm Thành dưới quyền Chế Bồng Nga tấn công ra bắc.
Quân Chiêm Thành phá được quân Trần và giết được Duệ Tông rồi, qua tháng sau đem quân đánh sang Thăng Long. Thượng Hoàng nghe tin giặc đến sai tướng ra giữ cửa Đại An. Giặc biết chỗ ấy có phòng bị nên đi vào cửa Thần Phù ( Yên Mô, Ninh Bình ) rồi lên cướp phá thành Thăng Long không ai đương nổi.
Năm 1378 quân Chiêm lại sang đánh đất Nghệ An rồi lại vào sông Đại Hoàng đánh lên Thăng Long lần nữa
Năm 1380 Quân Chiêm lại sang cướp phá ở đất Thanh Hóa. Vua sai lê Quý Li lĩnh thủy binh, Đỗ Tử Bình lĩnh bộ binh vào giữ ở Ngu Giang ( Hoằng Hóa – Thanh Hóa) Lê Quý Li đánh đuổi được quân Chiêm về.
Năm 1382 quân Chiêm lại sang cướp đất Thanh Hóa Lê Quý Li cùng Nguyễn Đa Phương giữ ở bến Thần Đầu ( Ninh Bình). Nguyễn Đa Phương phá được quân Chiêm đuổi đến đất Nghệ An mới thôi.
Năm 1383 Thượng hoàng sai Lê Quý Li đem chiến thuyền đi đánh Chiêm Thành. Quý Li vào đến cửa Nương Loan ( Kỳ Anh – Hà Tĩnh ) phải bão đánh nát mất nhiều thuyền phải rút quân về.
Qua tháng sáu năm ấy, Chế Bồng Nga cùng với tướng là La Khải đem quân đóng ở Quảng Oai. Ở kinh sư nghe tin giặc Chiêm lại sang, thượng hoàng sai tướng Mật Ôn ra giữ ở Tam Kỳ địa hạt Quốc Oai nhưng Mật Ôn bị quân Chiêm bắt sống. Thượng Hoàng sợ hãi, sai Nguyễn Đa Phương ở kinh sư làm đồn giữ thành, thượng hoàng cùng với vua chạy sang Đông Ngạn. Bấy giờ có người níu thuyền lại xin thượng hoàng cứ ở kinh sư chống giặc, thượng hoàng không nghe.
Năm 1389 Chế Bồng Nga lại đem quân ra đánh Thanh Hóa. Vua sai Lê Quý Li đem binh chống giữ ở làng Cổ Vô. Quan quân đóng cọc ngăn sông giữ nhau với giặc hơn 20 ngày. Giặc bèn phục binh rồi giả tảng rút chạy. Lê Quý Li đem thủy bộ đuổi đánh, bị phục binh giặc đổ ra đánh, giết hại mất nhiều. Lê Quý Li trốn chạy về kinh, để tì tướng là Phạm Khả Vĩnh và tướng quân Nguyễn Đa Phương ở lại chống nhau với giặc. Nguyễn Đa Phương lập kế đang đêm rút quân về.
Qua tháng 11, quân Chiêm lại vào sông Hoàng Giang, thượng hoàng sai Đô tướng là Trần Khát Chân đem binh đi chống giặc. Trần Khát chân khóc và lạy rồi đi, thượng hoàng cũng khóc. Xem thế thì biết vua tôi nhà Trần lấy quân Chiêm Thành làm khiếp sợ lắm.
Trần Khát Chân thấy địa thế Sông Hoàng Giang không tốt nên kéo về đóng quân ở sông Hải Triều ( Sông Lược). Lúc ấy, Trần Nguyên Diệu, em của Phế đế Trần Hiển đem bè lũ đầu đảng chạy theo quân Chiêm do muốn báo thù Nghệ Tông và Hồ Quý Ly đã giết anh mình.
Tháng giêng năm 1930, Chế Bồng Nga cùng với Nguyên Diệu đem hơn 100 chiến thuyền đến xem tình hình của quan quân nhà Trần (đại quân theo sau tiếp ứng).
Ngày 23/1/1390, Trần Khát Chân cho phục binh ở ngã ba sông Hải Triều và sông Nhị Hà. Trong các quan quân của Bồng Nga có Ba Lậu Kê, một tiểu thần bị Bồng Nga trách phạt sợ phải chết, đã chạy trốn sang quân nhà Trần và chỉ vào thuyền sơn lục (màu xanh) bảo rằng đó là thuyền của Quốc vương. Khát Chân biết được liền cho các súng bắn vào và giết chết Bồng Nga, quân giặc chạy tan tác. Nguyên Diệu liền cắt lấy đầu của Bồng Nga chạy về với quân nhà Trần, nhưng bị hai tướng là Phạm Nhữ Lặc và Dương Ngang giết. Khát Chân sai quan giám là Lê Khắc Khiêm bỏ thủ cấp của Bồng Nga vào hòm chở về báo tin thắng trận tại bến Bình Than, nơi Thượng hoàng đang đóng quân. Bấy giờ đồng hồ đã điểm canh ba, thượng hoàng đang ngủ, bị kinh động thức dậy tưởng là giặc đánh đến nơi. Đến khi nghe tin báo thắng trận nói rằng đã lấy được thủ cấp của Bồng Nga thì mừng rỡ, liền cho triệu các quần thần đến xem. Các quan mặc triều phục hô “vạn tuế”. Lúc đó Thượng hoàng vui mừng nói: “Ta với Bồng Nga cầm cự với nhau đã lâu ngày nay mới được thấy mặt, khác gì Hán Cao Tổ thấy đầu Hạng Vũ. Thiên hạ yên rồi”.
Tướng Chiêm Thành là La Khải hỏa táng xác Chế Bồng Nga và đem quân về nước chiếm ngôi vua. Đế chế của Chế Bồng Nga đến đây là chấm dứt. Hai con Chế Bồng Nga chạy sang hàng nhà Trần và đều được phong tước hầu.
Sau này, biết Lê Quý Li mưu sự thoán đoạt, Trần Khát Chân và một số tướng lĩnh định lập mưu trừ đi nhưng âm mưu bị lộ nên bị Lê Quý Li sát hại tổng cộng 370 người. Rồi Lê Quý Li cướp ngôi nhà Trần lập nên nhà Hồ hiệu là Đại Ngu.
4. Chiến tranh Hồ – Chiêm Thành
Năm 1402, quân Hồ đánh Chiêm thắng lợi, khiến vua Chiêm phải dâng Chiêm Động và Cổ Lũy (Quảng Nam và bắc Quảng Ngãi hiện nay). Nhà Hồ chiếm được đất ấy đặt ra 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa.
Năm 1403, Hồ Hán Thương lại sai Phạm Nguyên Khôi đi đánh Chiêm. Quân Hồ vây kinh đô Đồ Bàn trong 9 tháng nhưng rốt cuộc bị người Chiêm phản công, đánh cho một trận kịch liệt, lại hết lương nên phải rút về.
5. Chiến tranh Lê – Chiêm Thành: tiêu diệt kinh thành Đồ Bàn
Năm 1470, Vua Chiêm là Trà Toàn đem quân ra đánh phá Hóa Châu (ngày nay thuộc Thừa Thiên-Huế).
Năm 1471, Vua Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497) dẫn quân sang đánh Chiêm Thành, hạ thành Đồ Bàn, giết 60.000 người, bắt hơn 30.000 tù nhân. Vua Trà Toàn cũng bị bắt giải về đất Việt rồi chết giữa đường. Lê Thánh Tông ra lệnh phá hủy thành Đồ Bàn.
Sự kiện này chấm dứt sự tồn tại của quốc đô Đồ Bàn. Chiêm Thành mất miền bắc vào Đại Việt và lui về vùng phía nam Đèo Cù Mông.
Vào thời Tây Sơn, Nguyễn Nhạc cho xây dựng thành Hoàng Đế trên nền thành Đồ Bàn cũ. Nơi đây sau này diễn ra trận đánh ác liệt giữa quân của Tây Sơn tứ trụ Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng và Gia Định tam hùng Võ Tánh. Kết quả thành thất thủ, Võ Tánh tự thiêu. Nhưng quân Nguyễn Ánh lại đi tắt ra chiếm được kinh đô Phú Xuân, tiêu diệt Tây Sơn lập nên triều đại nhà Nguyễn. Sau khi tiêu diệt nhà Tây Sơn, chúa Nguyễn phá hủy thành Hoàng Đế và xây dựng thành lăng Võ Tánh.
Đến mãi năm 1832 Nhà Nguyễn thì mới tiêu diệt hoàn toàn những tàn dư còn lại của Chiêm Thành và sát nhập vào nước Việt Nam như ngày nay.
Nghe “ Hận Đồ Bàn” và đọc lại lịch sử chiến tranh Việt – Chiêm, tôi vẫn không khỏi bâng khuâng suy nghĩ. Xin có một vài chia sẻ để các bạn cùng bàn luận.
1. Về bài hát “Hận Đồ Bàn “ của nhạc sĩ Xuân Tiên
Bài hát “ Hận Đồ Bàn” là một bài hát hay, nhất là ở phần ca từ. Có lẽ với những người thích nghe dòng nhạc vàng đặc biệt là những người dân Chăm thì bài hát có thể coi là một tuyệt phẩm.
Bài hát có cái gì đó thôi thúc người nghe muốn tìm hiểu, nghiên cứu để hiểu rõ hơn về giai thoại lịch sử bi tráng của dân tộc Chăm như tiêu đề của bài viết là “muốn đắm mình vào những trang sử Việt”.
Tuy nhiên, bài hát có một điểm trừ rất lớn đó là có thể gợi lên những oán thù, gây mất đoàn kết dân tộc. Vì lẽ đó, bài hát không có cơ hội xuất hiện trên các phương tiện thông tin chính thống và khó phổ biến đến đại chúng khán thính giả được.
2. Về vị vua Chế Bồng Nga
Có thể nói vua Chế Bồng Nga là một ông vua kiệt xuất trong các triều đại Chiêm Thành. Vua Chế Bồng Nga đã làm được những điều mà các vị vua Chiêm khác không thể làm và gần như chủ động hoàn toàn trong chiến tranh Việt – Chiêm. Vào thời điểm cực thịnh, Chế Bồng Nga tấn công kinh thành Thăng Long của Đại Việt “ đi vào như chốn không người”, quan quân nhà Trần “không ai đương nổi”.
Ở một khía cạnh khác, người viết lại thấy những mặt hạn chế của Chế Bồng Nga. Trong 12 lần tấn công Đại Việt (trong đó có 3 lần đánh phá kinh đô Thăng Long), Chế Bồng Nga hầu như giành chiến thắng. Tuy nhiên, Chế Bồng Nga không làm được việc là mở mang bờ cõi mà chỉ dừng lại ở việc đánh, cướp phá rồi rút quân về. Hơn nữa, việc Chế Bồng Nga lấn át được vua tôi nhà Trần cũng là giai đoạn nhà Trần suy vong, vua hèn, tôi yếu. Đại thần Đỗ Tử Bình hèn nhát, tham của, Lê Quý Li thì chuyên quyền, âm mưu thoán đoạt. Nếu đặt Chiêm Thành và Chế Bồng Nga bên cạnh Đại Việt thời thịnh trị với các danh tướng như Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt…. thì Chế Bồng Nga chỉ là ánh đom đóm sao so được với ánh trăng rằm, không có gì để nói. Do vậy, Chế Bồng Nga chẳng qua cũng là phường cướp bóc mà thôi.
3. Về công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước
Đọc lại lịch sử chiến tranh Việt – Chiêm, chúng ta cũng rút như được rất nhiều bài học quý báu. Việc các nước lớn xâm chiếm, áp đặt các nước nhỏ là hiện tượng phổ biến. Quy luật cá lớn nuốt cá bé luân diễn ra qua các thời kì, các giai đoạn. Như nước Chiêm Thành là một quốc gia độc lập tự chủ tồn tại hàng nghìn năm, có những giai đoạn phát triển rực rỡ. Ấy vậy mà kết cục lại bị diệt vong.
Nước Việt ta là nước lớn so với một số nước phía nam như Chiêm Thành, Ai lao, Chân Lạp, vv.. nhưng lại là quá nhỏ so với người láng giềng phương Bắc. Theo suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, ta có thể thấy lãnh thổ của đất nước ở phía bắc hầu như không có biến động nhiều. Tuy nhiên bờ cõi phía Nam liên tục được mở rộng từ miền Trung đến tận mũi Cà Mau như hiện nay. Điều này cũng thể hiện cái hùng tài của các thế hệ đi trước và các thế hệ lãnh đạo sau này. Ứng xử thế nào trước các nước lớn để giữ hòa bình, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ là điều hết sức khó khăn, phức tạp. Chợt nhớ lại lời của danh tướng Trần Hưng Đạo tâu với vua Anh Tông trước khi mất: “ Kẻ kia cậy có trường trận thì ta dùng đoản binh. Phép dùng binh thường vẫn thế. Còn như khi nào quân giặc kéo đến ầm ầm, như gió, như lửa thế ấy lại dễ chống. Nếu nó dùng cách dần dà như tằm ăn lá, thong thả mà không ham của dân, không cần lấy mau việc, thế ấy mới khó trị; ta nên kén dùng tướng giỏi, liệu xem quyền biến, ví như đánh cờ, phải tùy cơ mà ứng biến, dùng binh cốt phải đồng lòng như cha con một nhà thì mới có thể đánh được. Cách ấy cốt phải khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc. Đó là cái thuật giữ nước hay hơn cả.”
Suy đi ngẫm lại thấy lời dạy của ngài vô cùng đúng đắn ngay cả trong hoàn cảnh đất nước hiện tại.
Lời kết: đọc và tìm hiểu về lịch sử đất nước luôn là điều hết sức thú vị. Nó giúp cho mỗi chúng ta hiểu rõ hơn về cội nguồn dân tộc, giúp chúng ta thêm yêu quê hương đất nước, con người. Qua bài viết này, người viết muốn kêu gọi, khuyến khích mọi người và các thế hệ con cháu nên tăng cường học tập và hiểu rõ lịch sử dân tộc như lời Bác Hồ đã dạy:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
HN, ngày 7/8/2021
Hết
(*) Các nội dụng lịch sử chủ yếu được tổng hợp từ “Việt nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim
(*) Tham khảo “Lịch sử Việt nam” của Đỗ Thành Khôi(*) Và tham khảo nhiều bài viết của các tác giả khác trên mạng internet

Dài phết
Vụ Đại Việt khợp châu Ô, châu Lý quả là một cú ngoạn mục nhưng lại khá mơ hồ. Tiên sinh có thể giảng thêm được chăng? Tất nhiên không có thứ giao dịch đơn giản đổi 1 cô gái để lấy cả 2 châu. Napoleon Bonaparte cũng từng phán: làm gì có chuyện chỉ “đổ nước hoa” ra mà lấy được đất của người ta. Huyền Trân chẳng qua cũng chỉ là cái cớ để hợp thức hóa một thỏa thuận ngoại giao ngầm nào đấy. Theo lẽ thường thì đó phải là một thỏa thuận sinh tử, Chiêm chỉ chịu cắt 1 vùng lớn như thế trong tình huống nếu không cắt thì chết, thì mất nước. Nhưng có vẻ khi đó thằng anh Việt cũng chưa bức thằng em Chiêm đến cái mức ấy. Thế thì là sao?
Cụ tham khảo thêm bài này xem nhé.
https://baodanang.vn/bao-da-nang-xuan-2014/201401/quan-he-dai-viet-champa-nhin-tu-su-kien-huyen-tran-che-man-2303964/
Tác giả phải phản hồi trực tiếp, chứ lại gửi link bắt khách đọc là sao?